Nông sản Việt và thị trường Trung Quốc: Không tranh thủ là...dại

越南农产品和中国市场:不争取就是...蠢

Mỹ, châu Âu... còn tìm đến thị trường Trung Quốc, huống chi Việt Nam ở ngay bên cạnh thị trường khổng lồ ấy, không biết tranh thủ là... dại.

就连美国和欧洲都要发展中国市场,更不用说就在中国这个巨大市场边上的越南了,不知道去争取的话就真是...疯了。


Trong khi đó, thị trường Trung Quốc ăn hàng Việt Nam lên tới hàng chục, hàng trăm nghìn tấn thì được coi như chuyện đương nhiên, không mấy ai quan tâm. Chỉ đến khi thị trường đó gặp trục trặc, không tiếp tục ăn hàng, thương nhân, nông dân kêu gọi giải cứu nông sản thì câu chuyện ở thị trường Trung Quốc mới được nhắc đến nhiều.

而与此同时,中国市场吃进了上万吨的农产品却被视为理所当然,没有人会关注。只有在中国市场遇到问题,不再继续进口,商人和农民呼吁解救农产品时,中国市场的问题才会被多次提到。

PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương) khẳng định, đa dạng hóa thị trường là nhiệm vụ Việt Nam phải làm, bởi có như vậy, hàng hóa Việt Nam mới tránh được rủi ro do "bỏ trứng vào một giỏ".

工商部商贸研究院前院长阮文南博士副教授强调说,市场多样性是越南必须要做的任务,唯有如此,越南货物才能规避“鸡蛋放在一个篮子里”的危机。

Bên cạnh đó, đa dạng hóa thị trường chứng tỏ sản phẩm của Việt Nam đã đạt được tiêu chuẩn cao về chất lượng, mẫu mã, bao bì... mà thị trường nào cũng chấp nhận được. Hàng của Việt Nam có thể vào được bất cứ thị trường nào và trình độ làm hàng của doanh nghiệp Việt đã đáp ứng được yêu cầu của nhiều loại khách hàng từ thấp đến cao", PGS.TS Nguyễn Văn Nam nhận xét.

阮文南认为,在规避危机的同时,市场多样化也证明了越南的产品在质量、规格、包装等方面达到了很高的标准。越南的货物可以进入任何一个市场,而且越南企业的生产能力也能满足由低到高的不同客户群体的需要。

Cũng theo vị chuyên gia, khi Việt Nam đa dạng hóa thị trường tức là đã mở được cửa vào thị trường đó, lúc nào cần là có thể vào được, không phải làm lại từ đầu, xin xỏ, phê duyệt... Đồng thời, nó cũng giúp Việt Nam chống lại những hành vi cản trở của thị trường khác.

另一个专家也认为,当越南多样化市场后,就打开了某个市场的大门,在需要的时候便可进入,不需要重新开始申请。同时,市场多样化还可以帮助越南抵抗来自某个市场的阻碍。


Điểm cuối, những thị trường càng khó tính thì giá cả càng cao dù số lượng tiêu thụ không được nhiều. Quan trọng nhất là nó tạo đường đi lối lại thông thoáng, cửa mở sẵn cho hàng Việt.

最后一点是,那些要求更严苛的市场价格更高,尽管销售的数量不是很多。更重要的是,市场多样化为越南货物创造了一条宽敞的大路和随时开启的大门。

Bởi vậy, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại khẳng định, chúng ta mở cửa được nhiều thị trường rồi thì tùy theo tình hình từng kỳ, từng năm mà tập trung xuất khẩu ở đâu, việc này do công tác điều hành của cơ quan quản lý.

正因如此,商贸研究院原院长强调,我们打开了多个市场大门后,管理机关就可以根据不同时期和不同年度的实际情况进行调控,调整出口方向。


Tuy nhiên, từ thực tiễn lâu dài, PGS.TS Nguyễn Văn Nam khẳng định, Việt Nam vẫn phải thâm nhập kỹ, nắm chắc thị trường Trung Quốc vì đây là một thị trường khổng lồ, ở gần Việt Nam, yêu cầu không quá cao và khó tính như thị trường khác, lại mua nhiều và thường xuyên.

然而,从长期实践角度来看,阮文南强调,越南仍然需要仔细深入和巩固中国市场,因为这个市场无比巨大且靠近越南。中国市场相对其他市场而言,要求并没有那么严苛和挑剔,更重要的是中国购买得更多且次数更频繁。

"Mỹ, châu Âu... còn tìm cách đưa hàng vào Trung Quốc, huống hồ Việt Nam ở ngay bên cạnh mà không tranh thủ thì vô cùng lãng phí và rất... dại", ông nhấn mạnh.

阮文南表示,“就连美国和欧洲都在寻找把货物送到中国市场,何况越南就在中国边上,如果不会争取的话那么就是无比的浪费和非常的...愚蠢”。

Bên cạnh đó, vị chuyên gia cũng chỉ ra rằng, bấy lâu nay, thương nhân Việt Nam phần nhiều mới chỉ bán nông sản cho các tỉnh gần biên giới, trong khi Trung Quốc vẫn có những địa bàn yêu cầu rất cao, tương đương với hàng châu Âu như Thượng Hải, Bắc Kinh...

与此同时,这位专家也指出,很久以来,越南商人只在中国靠近边境的几个省份销售农产品,而且中国国内仍然有一些地方对农产品的要求极高,如北京、上海的要求相当于欧洲的标准。


Trường hợp công ty nông nghiệp của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai là một ví dụ điển hình được nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại nhắc đến. Chuối được Hoàng Anh Gia Lai xuất đi các thị trường lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…, nhưng công ty này vẫn xác định Trung Quốc chiếm 70 - 80% thị phần xuất khẩu của tập đoàn. Cho đến nay, chuối của Hoàng Anh Gia Lai trồng đến đâu bán hết đến đấy, thậm chí còn không có đủ mà bán.

嘉莱黄英集团便是被商贸研究院前院长提到的此类农业企业的一个典型。嘉莱黄英公司的香蕉出口到了各大市场如日本、韩国、新加坡等等,但是该公司仍然坚持中国市场占其出口总额的70-80%。直到现在,嘉莱黄英公司的香蕉有多少便卖了多少,甚至有时供不应求。